
Dân Do Thái ngày xưa đã mất 40 năm hành trình trong sa mạc để tiến về miền đất hứa. Cuộc hành trình 40 năm ấy chắc chắn đầy gian khổ, nguy hiểm, bất an và tuyệt vọng. Nhưng sau 40 năm hành trình gian khổ dân Do Thái đã vào được đất Chúa hứa, nghĩa là đã đến đích.
Năm nay đặc biệt là năm thánh, năm của “Những Người Hành Hương của Hy Vọng”. Tất cả chúng ta đang là những người “Lữ Hành của Hy Vọng”. Niềm hy vọng của chúng ta là đạt được kho tàng ở trên trời, đó chính là miền Đất Hứa Chúa dành cho chúng ta.
Cuộc hành trình Đức Tin của cộng đoàn chúng ta đã trải qua 45 năm. 45 năm quả thật là một đoạn đường dài. Nhưng cuộc hành trình của chúng ta chưa phải là kết thúc. Hôm nay chỉ là phút dừng chân tạm thời để chúng ta nhìn lại, quan sát những gì chúng ta đã bỏ lại sau lưng, kiểm điểm lại hành trang rồi lại hướng về phía trước và tiếp tục tiến tới.
45 năm, thời gian đã đủ để chúng ta nhìn lại xem chúng ta đã có những bước đi như thế nào, phát triển ra sao, đã có những thành tựu nào hay có những thay đổi gì. Đời sống 45 năm dù là cá nhân hay tập thể chắc chắn có những thay đổi nhất định. Cuộc hành trình 45 năm qua của cộng đoàn chắc không gian khổ như dân Do Thái xưa nhưng khó khăn cũng không thiếu, vui buồn tràn ngập, và thành quả cũng đáng khích lệ.
So với các cộng đoàn công giáo trong vùng, cộng đoàn chúng ta được thành hình tương đối khá sớm, vào thời điểm người tị nạn Việt Nam bắt đầu được nhận nhiều vào Đức. Đó là năm 1980.
Sự thành lập cộng đoàn
Cộng đoàn Công Giáo Mông Triệu Neuss được nảy mầm từ khi nhóm 52 người tị nạn được tàu Hamburg Express của Đức cứu vớt và cho về định cư tại thành phố Neuss ngày 16.10.1979. Trong số 52 người này chỉ có khoảng 20 người công giáo. Những người công giáo này đã có ý tưởng thành lập “nhóm“ công giáo Việt Nam tại thành phố này. Thời gian đầu có một linh mục lo việc mục vụ cho các cộng đoàn Việt Nam tị nạn. Đó là cha Antôn Trần Ngọc Cẩn. Sau thánh lễ Chúa nhật vào đầu tháng giêng 1980, mọi người đã họp nhau tại một phòng hội bầu lên một ban đại diện cho nhóm gồm : một trưởng và một phó kiêm thư ký. Người đại diện tiên khởi của nhóm là ông Trần Ngọc Khử, ông đã qua đời 3 năm trước.

Từ khi có con tàu Cap Anamur cứu vớt người vượt biển số người tị nạn được nhận vào Đức dần tăng lên. Từ đó, dân số cộng đoàn Neuss cũng tăng theo. Nhưng có lẽ tăng mạnh nhất là vào giữa thập niên 80. Vì thời điểm đó không chỉ những người từ các trại tị nạn Đông Nam Á mà cả những người từ Việt Nam được đi thẳng tới Đức theo diện đoàn tụ gia đình. Có những gia đình 5-6 hoặc 10 người. Một phần nữa do một số người từ các thành phố hoặc các tiểu bang khác trong nước Đức nhập về. Khi nhân số cộng đoàn tăng nhiều, danh xưng cộng đoàn công giáo đã được chính thức thay thế cho danh từ nhóm vào năm 1985 và Đức Mẹ Mông Triệu đã được chọn làm bổn mạng cộng đoàn.
Sau 45 năm về nhân số đã có nhiều thay đổi. Ngay từ thập niên đầu tiên đã có nhiều người vì việc học, công ăn việc làm, lập gia đình hay muốn về gần cha me, con cái … nên đã rời bỏ cộng đoàn đi các thành phố khác hoặc nước khác. Theo thời gian cộng đoàn cũng mất dần vĩnh viễn một số thành viên trẻ cũng như già qua đời vì bệnh tật.
Nhìn lại những sinh hoạt:
Bất cứ một tổ chức, một hội đoàn hay cộng đoàn nào được thành lập cũng phải có những sinh hoạt, nghĩa là những hoạt động cho những mục đích được đề ra. Với những cộng đoàn công giáo chúng ta ở mọi nơi, các sinh hoạt không chỉ giới hạn trong việc sống đạo thuần túy về tôn giáo mà còn cả những sinh hoạt về lãnh vực văn hoá, xã hội v.v…
Một tổ chức, một hội đoàn mà không có những sinh hoạt thì chỉ là hư danh. Đặc biệt đối với các cộng đoàn công giáo nếu không có những sinh hoạt thì không thể gọi là cộng đoàn và càng không thể gọi là người có đức tin. Thánh Giacôbê đã nói:“ Đức tin mà không có việc làm là đức tin chết“.
Trước hết, đối với người công giáo Thánh Lễ và các Bí Tích là trung tâm điểm của đời sống đức tin. Mang thân phận kẻ tha hương các cộng đoàn công giáo được thành lập không ngoài mục đích cùng nhau tham dự thánh lễ bằng tiếng mẹ đẻ, và cùng chia sẻ nâng đỡ nhau trong việc sống đạo cũng như đời sống ngoài xã hội.
Những người sống đời tha hương thời gian đầu chưa thể hội nhập vì văn hoá, ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ đối với họ. Giáo quyền bản địa hiểu được nhu cầu và tầm quan trọng về mục vụ cho những người này nên đã bổ nhiệm cho các cộng đoàn ngoại quốc một vị linh hướng cho từng ngôn ngữ để chăm sóc đời sống thiêng liêng cho giáo dân của mình.
Từ năm 1981 cha cố Philipphê Lê Đạo Luận được bổ nhiệm làm linh hướng cho tổng giáo phận Köln. Từ đó thánh lễ cộng đoàn được diễn ra tại nhà nguyện dưới hầm nhà thờ Chúa Kitô vua. Từ năm 1989 được chuyển về nhà thờ St. Barbara cho tới năm 2024. Sau đó các thánh lễ của cộng đoàn được chuyển về nhà thờ Heilig Geist.
Trong thời gian cha cố Philipphê làm linh hướng các thánh lễ cho cộng đoàn rất tiếc không đều đặn hằng tháng nhưng những dịp lễ quan trọng trong năm vẫn không thiếu. Từ năm 2002 cha Dom. Nguyễn Ngọc Long lãnh trách nhiệm linh hướng, cộng đoàn có thánh lễ hằng tháng vào Chúa nhật thứ 2 trong tháng ngoại trừ trường hợp đặc biệt cần phải uyển chuyển.

Riêng ngày lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời từ ngày cộng đoàn nhận Mẹ làm bổn mạng dường như năm nào cộng đoàn cũng có thánh lễ mừng trọng thể. Rất nhiều lần cộng đoàn đã cung nghinh Mẹ hoặc làm giờ thánh kính Mẹ trước khi bước vào thánh lễ. Từ năm 2004 đến khoảng năm 2010 con số các em thiếu nhi tuổi từ 6 đến 14 có khoảng 15 em. Các thánh lễ tháng 5, tháng hoa kính Đức Mẹ và các thánh lễ bổn mạng cộng đoàn đều cung nghinh Đức Mẹ và các em đã sốt sắng dâng hoa kính Mẹ.
Đặc biệt vào năm 2003 có cuộc Đức Mẹ La Vang Thánh du qua các cộng đoàn công giáo Việt Nam tại Đức. Cộng đoàn chúng ta cũng nghinh đón Mẹ về cộng đoàn 3 ngày, có thánh lễ và các em đã dâng hoa kính Mẹ rất trọng thể. Đó là những năm các sinh hoạt đạo đức của cộng đoàn sinh động và hăng say nhất. Và đó cũng là điều chúng ta rất đáng vui mừng và tự hào. Rất tiếc nhiều năm vì hoàn cảnh không cho phép truyền thống này chỉ thực hiện được vào những dịp thuận tiện mà thôi. Và cũng tiếc những năm sau này và cho đến hôm nay cộng đoàn không có đủ những em nhỏ để thành đội dâng hoa nên các dịp lễ tháng hoa cộng đoàn dâng hoa kính Mẹ bằng hình thức tập thể, mọi người cùng dâng trong bầu khí trang nghiêm sốt sắng.
Từ mấy chục năm nay ca đoàn Têrêsa của cộng đoàn Mông Triệu cũng đã đóng một vai trò rất quan trọng và rất đắc lực cho những sinh hoạt của cộng đoàn. Ca đoàn đã được ra đời 6 năm sau ngày cộng đoàn được thành lập, tức từ năm 1986. Ca đoàn lúc đầu qui tụ được khá nhiều những thành viên trẻ.

Sự thành hình và những sinh hoạt của ca đoàn cũng có nhiều thay đổi về nhân sự cũng như về sinh hoạt theo từng thời gian và từng hoàn cảnh. Những năm gần đây nhờ vào sự tham gia của nhiều người tuy không cư ngụ ở Neuss nhưng có tâm hồn và đầy nhiệt huyết khiến con số thành viên ca đoàn tăng cao không chỉ gồm ca viên mà đặc biệt cả những bạn trẻ rất có khả năng về âm nhạc của thế hệ thứ hai thứ ba. Nhờ đó ca đoàn Têrêsa của cộng đoàn Neuss hiện nay khá vững mạnh khiến bầu khí trong các thánh lễ trở nên linh thiêng và sốt sắng.
Từ năm 2004 đến năm 2006 vào ngày thứ sáu tuần thánh cộng đoàn đã có nghi thức tưởng niệm Chúa Giêsu chịu chết rất trọng thể và sốt sắng, trang nghiêm. Từ năm 2007 đến năm 2013, cộng đoàn đã tổ chức lễ vọng Phục Sinh vào tối thứ bảy từ 20 giờ 30 với đầy đủ các nghi thức theo luật phụng vụ. Sau thánh lễ mọi người cùng ở lại mừng Chúa sống lại với trứng phục sinh, rượu vang, nước ngọt, bánh ngọt v.v… Bầu khí rất thân mật và ấm cúng.
Ngoài những thánh lễ mừng bổn mạng, hằng năm cộng đoàn cũng không quên ngày truyền thống linh thiêng của dân tộc, đó là „Tết Nguyên Đán“. Suốt 45 năm có lẽ chỉ một vài lần vì lý do bất khả kháng cộng đoàn không có cơ hội ăn Tết chung. Còn lại dù đơn sơ hay trọng thể cộng đoàn đã có những ngày Tết rất vui và rất có ấn tượng. Điển hình những ngày Tết rất vui nhộn và phấn khởi từ năm 2007 đến 2010 với những màn trình diễn văn nghệ sôi nổi và hấp dẫn của các em thiếu nhi do một số phụ huynh có sáng kiến và đạo diễn.
Có lẽ điểm nổi bật nhất trong các sinh hoạt của cộng đoàn Mông Triệu là phong trào tôn vương. Ngay từ khi cộng đoàn mới chỉ là nhóm việc tôn vương kính Đức Mẹ đã được phát động. Lòng sùng kính Đức Mẹ đã là động lực thúc đẩy những người con của Mẹ sống tha hương tìm đến Mẹ như một điểm tựa cho đời sống đức tin. Ngoài ra, phong trào tôn vương Đức Mẹ còn là dịp để nối kết tình tương thân tương ái, dịp để gặp gỡ trao đổi và chia sẻ những kinh nghiệm cũng như những ưu tư trong cuộc sống tha hương của các thành viên trong cộng đoàn. Phong trào tôn vương không có tính cách bắt buộc nhưng mọi người được mời gọi tham gia.
Thời gian đầu chỉ có chừng 5 gia đình tham gia vì lúc đó dân số cộng đoàn còn rất khiêm tốn. Dần dần dân số cộng đoàn gia tăng và số gia đình tham gia tôn vương cũng tăng. Từ năm 2004 đến năm 2007 lên đến 14, 15 gia đình. Thời điểm hiện tại còn 11 gia đình tham gia. Chương trình tôn vương vẫn được giữ đều đặn và liên tục từ ngày đầu cho đến hôm nay.
Như ở trên đã nói, từ năm 2004 đến năm 2010 số trẻ em tương đối đủ nên một số phụ huynh đã hy sinh đứng ra sinh hoạt cho các em. Các em cũng đã ngoan ngoãn hăng say cộng tác như: dâng hoa, giúp lễ, văn nghệ v.v… Nói về các em giúp lễ từ năm 1988 đến nay cộng đoàn lúc nào cũng có các em giúp lễ rất tích cực, có những năm đội giúp lễ lên đến 14-15 em.
Nhìn lại nếp sống đạo:
Truyền thống sống đạo của người công giáo Việt Nam từ xưa tới nay và dù bất cứ ở đâu đều được bảo toàn và phát huy một cách rất ấn tượng, mặc dù có những nơi vì hoàn cảnh sống tha hương có nhiều điều kiện không thuận lợi nhưng sức sống đạo không vì thế mà bị suy giảm. Suốt 45 năm qua sức sống đạo của cộng đoàn Mông Triệu Neuss nhìn chung có thể nói khá hoàn hảo, tuy đôi khi nhìn bề ngoài có vẻ rời rạc thiếu nhiệt tâm.
Những tháng năm đầu đời của cuộc sống ly hương không ai không cảm thấy lạc lõng và ngỡ ngàng trước một nếp sống, một nền văn hoá, một ngôn ngữ và cả nếp sống đạo hoàn toàn khác lạ. Do đó, ai cũng có những ưu tư khắc khoải muốn giữ lại và muốn bảo tồn những gì mình đã có không muốn để vụt mất. Những thế hệ đầu tiên đó đã là những người lót những viên gạch xây dựng nền móng cho sự phát triển và tồn tại của nếp sống đạo 45 năm qua của cộng đoàn. Những năm đã qua và hiện tại nhờ sự hướng dẫn, lèo lái và những gương lành của các thế hệ đi trước sức sống đạo của cộng đoàn cho đến hôm nay vẫn còn tốt đẹp.
Nhìn lại những biến cố:
Trong cuộc sống dù cá nhân hay tập thể ít nhiều đều trải nghiệm những biến cố liên quan đến chính mình hay đến tập thể. 45 năm dài chắc chắn không thể không có biến cố gì dù to hay nhỏ, vui hay buồn.
Biến cố mà ai trong chúng ta cũng ghi nhớ mãi đó là sự ra đi vĩnh viễn của cha cố Philipphê Lê Đạo Luận ngày 20.06.2001. Cha cố Philipphê ra đi không chỉ để lại sự thương tiếc cho đoàn chiên mà còn để lại một khoảng trống mục vụ cho các cộng đoàn trong giáo phận.
Tháng sáu năm 2002 nghĩa là sau một năm khi cha cố Philipphê qua đời toà tổng giám mục đã bổ nhiệm cha Dom. Nguyễn Ngọc Long làm linh hướng cho toàn thể cộng đồng dân Chúa Việt Nam thuộc tổng giáo phận Köln cho đến ngày ngài đi hưu.
Biến cố tiếp theo là dịp kỷ niệm ngân khánh linh mục của cha linh hướng Dom. Nguyễn Ngọc Long. Vào dịp lễ của cộng đoàn ngày 10.06.2018, cộng đoàn đã tổ chức thánh lễ cách đặc biệt để mừng kỷ niệm 25 năm linh mục của cha linh hướng. Mọi người đã tham dự đông đủ trong thánh lễ cùng sốt sắng cầu nguyện cho ngài và liên hoan chúc mừng ngài trong bầu khí tưng bừng phấn khởi.

Nhìn lại tình liên đới:
Cộng đoàn Mông Triệu Neuss là một cộng đoàn tuy nhỏ nhưng có tiếng là tình đoàn kết cao độ. Suốt 45 năm qua mọi thành viên dù già dù trẻ đã sống và sinh hoạt với nhau như trong một đại gia đình. Những công việc chung của cộng đoàn mọi người rất hăng hái chia nhau đảm nhận hoặc giúp nhau hoàn thành trách nhiệm. Ngay cả những công việc riêng của gia đình mọi người cũng tận tâm chia sẻ, giúp đỡ. Nhờ có tinh thần đoàn kết mà cộng đoàn đã đứng vững và tồn tại trong sự hài hoà, thương mến đến hôm nay chưa có điều gì đáng tiếc xẩy ra. Đây là điều thật đáng mừng, đáng quí, ước mong tình đoàn kết này luôn tồn tại mãi đến các thế hệ sau này.
Nhìn về tương lai:
Chúng ta vừa quay nhìn lại đoạn đường 45 năm đã qua để rà soát lại những gì đã xẩy ra cũng như để nhìn lại những gì cộng đoàn chúng ta đã làm được. Những gì đang chờ đợi ở phía trước, chúng ta cùng phóng tầm nhìn về phía trước để đoán biết những gì sẽ đến trong những năm tháng sắp tới.
Với thân phận của người sống xa quê hương chúng ta đã sống gắn bó với nhau suốt 45 năm qua nhằm mục đích bảo tồn văn hoá và nếp sống đạo theo truyền thống của dân tộc. Cho đến hôm nay có thể nói chúng ta đã phần nào đạt được mục đích dù chưa phải là hoàn hảo. Nhưng mọi việc đều có thể thay đổi theo thời gian. Tương lai gần cũng như xa của cộng đoàn sẽ như thế nào chúng ta cần nhìn vào thực tại để phân tích và suy luận hy vọng sẽ có thể ước đoán và có một cái nhìn sát thực tế hơn.
Nhìn về tương lai là nhìn vào thế hệ trẻ. Ở đây muốn nói đến thế hệ tuổi từ 40 trở xuống. Đa số họ là thế hệ được sinh ra và lớn lên tại xứ người. Họ được hấp thụ nếp sống, giáo dục, văn hoá của người bản xứ sâu nặng hơn những gì của chính mình. Phần nhiều họ có lối suy nghĩ, cách sống, cách hành xử cùng những sinh hoạt rất khác các thế hệ của chúng ta. Những sinh hoạt truyền thống của chúng ta họ không mấy hứng thú, có chăng hiện giờ họ chỉ tham gia cách miễn cưỡng, thụ động như đã nói ở trên.
Vậy, 15-20 năm nữa các thế hệ trước đây và hiện tại sẽ lần lượt qua đi, liệu thế hệ trẻ này có tiếp nối truyền thống hiện giờ của chúng ta không ? Đây là câu hỏi rất đáng quan tâm. Dân tộc nào cũng có những người một lúc nào đó họ tự động tìm về nguồn. Dân tộc việt Nam chắc cũng không ngoại lệ. Nhưng nếu điều này xẩy ra chắc chắn thế hệ trẻ này sẽ không đi theo con đường của chúng ta mà họ sẽ có con đường riêng thích hợp với họ hơn. Dù cách nào thì đó cũng là điều đáng mong ước.
Nhìn lại 45 năm qua ước mong hồn dân tộc vẫn còn tồn đọng trong tim những con người mang dòng máu Lạc Hồng.
Đỗ Văn Thục
Dịp mừng kỷ niệm 45 năm
(1980-2025)