
Biến cố 30.04.1975 đã gây ra một cuộc ly tán trầm trọng cho người dân Việt Nam đủ mọi thành phần, đủ mọi tầng lớp trong xã hội, và đủ mọi lứa tuổi. Cuộc ly tán không chỉ xẩy ra vào những ngày trước hoặc sau biến cố này mà còn kéo dài mãi nhiều năm sau đó. Những người Việt Nam bất đắc dĩ bỏ nước ra đi phải lưu lạc khắp nơi trên thế giới không khác gì dân Do Thái ngày xưa cũng bị lưu đầy khắp nơi.
Lần thứ nhất dân Do Thái bị lưu đày sang Babylon khoảng năm 597 trước công nguyên. Nhiều người trong chúng ta chắc còn nhớ bài hát với câu: “Bên bờ sông Babylon ta ngồi ta khóc, ta nhớ Sion“ (theo thánh vịnh 137 của vua David). Lần thứ hai là năm 70 sau công nguyên, thời kỳ Do Thái bị người Rôma cai trị. Vì dân Do Thái nổi dậy chống đối nên bị quân Rôma đàn áp và đền thờ Jerusalem bị phá hủy bình địa, như lời Chúa Giêsu đã cảnh báo: „Sẽ có một ngày đền thờ Jerusalem không còn hòn đá nào trên hòn đá nào.“ Sau biến cố đó dân Do Thái bị đày đi khắp nơi trên thế giới.
Con người khi phải bắt buộc rời bỏ quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn để lưu lạc sống nương nhờ ở một nơi hoàn toàn xa lạ: xa lạ về địa hình địa vật, xa lạ về ngôn ngữ và xa lạ cả về tư tưởng, văn hoá, nếp sống thì những người tha hương luôn có tâm lý tìm đến nhau, xích lại gần nhau. Và dĩ nhiên với tâm trạng kẻ viễn xứ có dịp gặp được một đồng hương, một người cùng dòng máu, cùng tiếng nói nơi đất khách quê người là một điều mừng vui khôn tả. Dù chẳng phải thân quen, dù chưa một lần gặp gỡ, nhưng nếu tình cờ gặp nhau nơi xứ lạ ai nấy cũng tay bắt mặt mừng và chỉ trong phút chốc tất cả đều trở nên thân thuộc, tri kỷ.
Sau biến cố 1975 đến năm 1978 ở Đức (lúc đó gọi là Tây Đức) chỉ có một số sinh viên Việt Nam du học bị kẹt lại. Vì chính phủ Đức lúc đó chưa có chương trình thâu nhận người tị nạn. Từ năm 1978 người tị nạn Việt Nam bắt đầu được thâu nhận vào Đức nhưng còn rất hạn chế. Từ năm 1979 khi con tàu Cap Anamur của tiến sĩ Rupert Neudeck hoạt động cứu người tị nạn ngoài biển đông và được chính phủ Đức thâu nhận theo cấp số thì làn sóng tị nạn Việt Nam đến Đức dần dần tăng lên. Và dù số lượng không nhiều mỗi lần nhập vào Đức người tị nạn vẫn được chia về các tiểu bang, các thành phố khác nhau.
Và cũng từ năm 1979 người tị nạn Việt Nam nói chung và người công giáo nói riêng có mặt rải rác tại các thành phố thuộc tiểu bang NRW, đặc biệt trong tổng giáo phận Köln. Từ khoảng năm 1984 trở về sau số người Việt Nam đến Đức càng tăng theo diện đoàn tụ gia đình. Rồi từ ngày bức tường Bá Linh sụp đổ đến nay con số người Việt tại Đức càng tăng nhiều hơn nữa, và dĩ nhiên trong đó số người công giáo cũng đáng kể.
Như đã nói ở trên với tâm trạng kẻ tha hương người ta có nhu cầu xích lại gần nhau. Đặc biệt, những người cùng tôn giáo muốn có những sinh hoạt thuần túy theo truyền thống của mình như khi còn ở quê hương. Chính vì thế, các cộng đoàn công giáo từ từ được thành lập tại các địa phương nơi có người tị nạn Việt Nam cư ngụ. Ban đầu có thể chưa được gọi là cộng đoàn mà chỉ là „nhóm công giáo“ vì số lượng người còn quá khiêm tốn. Nhưng với thời gian dân số gia tăng danh xưng cộng đoàn chính thức được sử dụng.
Những năm đầu đời tị nạn việc hội nhập văn hóa, nếp sống của người bản xứ còn nhiều khó khăn, kể cả nếp sống đạo đức cũng có nhiều khác biệt, và trở ngại lớn nhất là ngôn ngữ. Hiểu được điều này nên các giáo phận ở Đức lúc đó đều bổ nhiệm một linh mục Việt Nam làm linh hướng lo việc mục vụ cho những người tị nạn công giáo.
Năm 1979 khi đã có người công giáo Việt Nam tị nạn trong phạm vi giáo phận Köln, tòa tổng giám mục đã cử một linh mục Việt Nam, lúc đó đang du học tại đây chăm sóc mục vụ cho người tị nạn. Đó là linh mục Antôn Trần Ngọc Cẩn. Nhưng đến năm 1981 tòa tổng giám mục bổ nhiệm linh mục Philipphê Lê Đạo Luận đang là cha phó tại một giáo xứ ở Ratingen thay thế linh mục Trần Ngọc Cẩn làm linh hướng cho giáo dân Việt Nam trong tổng giáo phận.
Khi linh mục Philipphê Lê Đạo Luận chính thức làm linh hướng cho giáo dân Việt Nam thì tòa giám mục Aachen cũng nhờ ngài chăm sóc mục vụ cho cả giáo dân thuộc giáo phận Aachen. Như vậy, thời gian đầu cha cố Philipphê trách nhiệm linh hướng cho giáo dân Việt nam cả hai giáo phận Köln và Aachen. Đến năm 1994 thì cha cố Philipphê xin nghỉ trách nhiệm linh hướng bên giáo phận Aachen.
Cha cố Philipphê Lê Đạo Luận lúc đó là một linh mục trẻ năng động, hăng say và thánh thiện. Mấy năm đầu khi mới lãnh trách nhiệm linh hướng các cộng đoàn lúc đó một số vừa được thành lập một số còn đang trong giai đoạn thành hình nên các sinh hoạt chưa có nề nếp, tất cả mọi thứ đều đang bắt đầu. Tất cả các cộng đoàn lúc đó còn rất nhỏ bé đơn sơ cộng thêm tinh thần còn bỡ ngỡ lo âu. Cha cố Philipphê đã sốt sắng đến từng cộng đoàn để củng cố tinh thần, khích lệ và giúp đỡ thành lập cộng đoàn cho có qui củ.
Đến năm 1983 hầu như các cộng đoàn trong tổng giáo phận Köln cũng như giáo phận Aachen đã được thành lập. Và, khi các cộng đoàn đã đủ vững mỗi cộng đoàn đều chọn một thánh hiệu bổn mạng cho cộng đoàn. Trong tổng giáo phận Köln ban đầu gồm 6 cộng đoàn: CĐ Thánh Tâm Düsseldorf, CĐ Đức Mẹ Mông Triệu Neuss, CĐ Đức Mẹ Mông Triệu Köln, CĐ Thánh Tâm Erfstadt, CĐ Thánh Phêrô Troisdorf (bao gồm Bonn, từ năm 2002 Bonn thành lập cộng đoàn riêng là CĐ Thánh Giá Bonn) CĐ Thánh Giuse Wuppertal (bao gồm Remscheid, Solingen, Wipperfürth sau này Wipperfürth thành lập cộng đoàn riêng là CĐ Đức Mẹ Mân Côi Wipperfürth). Giáo phận Aachen gồm 3 cộng đoàn: CĐ Thánh Phanxicô Xaviê Aachen, CĐ Thánh Tâm Krefeld, CĐ Các Thánh TĐVN Mönchengladbach (bao gồm Viersen, sau này Viersen thành lập cộng đoàn riêng là CĐ Thánh Phêrô Viersen). Như vậy, thời gian sau này trong cả hai giáo phận có tổng cộng 12 cộng đoàn. Nhân số các cộng đoàn không đồng đều, nhưng các sinh hoạt về tôn giáo không mấy khác biệt.
Khi nhận trách nhiệm linh hướng Cha cố Philipphê Lê Đạo Luận cư ngụ tại giáo xứ Chúa Kitô Vua ở Neuss. Đến năm 1988 ngài đổi về giáo xứ St. Lucia ở Bedburg-Rath cho đến ngày tạ thế.
Cha ông ta thường nói: vạn sự khởi đầu nan. Thật đúng như vậy. Bất cứ công việc gì khi mới bắt tay vào làm đều thấy những khó khăn trở ngại. Nếu không có ý chí và sự kiên nhẫn sẽ dễ bị thất bại. Nhưng một khi có quyết tâm và kiên trì vượt qua thử thách ban đầu thì mọi việc sẽ đạt kết quả tốt đẹp. „Đầu xuôi thì đuôi lọt“.
Chắc chắn những năm đầu tị nạn của giáo dân cũng như những năm đầu đời linh hướng của cha cố Philipphê, cả cha lẫn con đã gặp không ít khó khăn thử thách về mọi lãnh vực. Nhưng cuối cùng nhờ ơn Chúa, nhờ lòng can đảm và nhiệt tâm nên mọi chướng ngại ban đầu đã bị đẩy lui và kết quả ngày càng đáng tự hào. Theo thời gian các cộng đoàn ngày càng vững mạnh và phát triển cả về nhân số lẫn các sinh hoạt đạo đời.
Nói về các sinh hoạt đạo đức tùy điều kiện thuận lợi tại mỗi cộng đoàn cha cố Philipphê sắp xếp thời gian đến dâng thánh lễ cho cộng đoàn có nơi hằng tháng có nơi một hai tháng. Để tỏ lòng kính mến Đức Mẹ ngài khuyến khích các cộng đoàn thực hiện phong trào tôn vương Đức Mẹ tại các gia đình và chính ngài đã cung cấp tài liệu là cuốn sách „Gia Đình Đền Tạ“ rất quen thuộc của linh mục Trịnh Cát. Một số cộng đoàn đến nay vẫn còn giữ truyền thống tốt đẹp này.
Để bảo tồn văn hóa truyền thống và để có một sắc thái thuần túy của dân tộc, cha cố Philipphê đã khuyến khích các cụ ông cụ bà, những vị cao niên mặc trang phục truyền thống áo dài khăn đóng trong các dịp lễ lớn chung cho toàn thể giáo dân trong hai giáo phận, các quí ông màu xanh, quí bà màu đỏ. Quí vị cao niên hồi đó đã hưởng ứng tích cực. Rất tiếc không có nhiều hình ảnh ghi lại những nét đẹp này vì lúc đó chưa có nhiều phương tiện như ngày nay. Các thanh niên ngài đề nghị mặc áo sơ mi trắng thắt cà vạt xanh đen.
Tại các cộng đoàn cha cố Philipphê đề nghị một vài người có khả năng đứng ra dạy giáo lý cho các em thiếu nhi, nhưng phần nhiều chính ngài đứng ra dạy các em trước mỗi thánh lễ của cộng đoàn. Mỗi cộng đoàn cũng dần dần thành lập ca đoàn để phục vụ các thánh lễ của cộng đoàn với lứa tuổi thanh niên hay trung niên. Và các ca đoàn địa phương cùng nhau góp tiếng hát phục vụ các thánh lễ chung. Tuy nhiên danh xưng ca đoàn tổng hợp vẫn chưa chính thức ra đời.
Tại các xứ đạo ở quê nhà đều có rất nhiều hội đoàn tạo cho bầu khí sinh hoạt của giáo xứ rất sinh động và hun đúc lòng nhiệt thành của mọi thành phần giáo dân. Thí dụ như Thiếu Nhi Thánh Thể, Liên Minh Thánh Tâm, Các Bà Mẹ Công Giáo, Legio Mariae (Đạo Binh Đức Mẹ), hội Con Đức Mẹ v.v… Hoàn cảnh những người sống tha hương không có điều kiện thuận lợi như ở quê nhà nên khó có thể thành lập các đoàn thể như ở quê nhà. Tuy vậy, cha cố Philipphê cũng đã khuyến khích và thành lập hội Các Bà Mẹ Công Giáo. Ngài đã hướng dẫn hội sinh hoạt rất hăng say, sốt sắng. Cho đến hôm nay sau mấy chục năm hội vẫn phát triển và hoạt động tích cực khiến cho các cuộc lễ lớn có một bầu khí thánh thiêng và sinh động.
Từ năm 1981 đến năm 1987 các thánh lễ chung như Giáng Sinh, Phục Sinh, Các TTĐVN được tổ chức tại thánh đường Chúa Kitô Vua ở Neuss. Từ năm 1988 các thánh lễ chung được tổ chức tại Bedburg Rath nơi cha cố cư ngụ. Hằng năm ngoài các thánh lễ lớn còn có một ngày hành hương kính viếng Đức Mẹ Kevelaer.
Một vài năm đầu khi cha cố Philipphê còn cư ngụ ở Neuss, để chuẩn bị cho các thánh lễ lớn chung cha cố thường mời gọi thanh thiếu niên nam nữ qui tụ về giáo xứ Chúa Kitô Vua ở Neuss để sinh hoạt, tập hát. Các bạn trẻ ở xa có khi ngủ lại đêm tại hội trường của giáo xứ.
Trong suốt thời gian cha cố Philipphê làm linh hướng chưa có một danh xưng nào cho tất cả giáo dân thuộc cả hai giáo phận Köln và Aachen và, vì thế cũng không có một ban đại diện nào cho tất cả các cộng đoàn cũng như chưa có thánh hiệu bổn mạng chung. Tất cả các thông tin mục vụ được cha cố sắp xếp và thông báo đến các trưởng cộng đoàn có khi bằng miệng, có khi bằng văn bản, rồi các trưởng cộng đoàn thông tin đến các thành viên trong cộng đoàn. Thí dụ: thư báo lễ hàng tháng của mỗi cộng đoàn, thư gửi cho các bạn trẻ thanh thiếu niên, thư chung dịp lễ Giáng Sinh, Phục Sinh hoặc những thánh lễ chung đặc biệt khác v.v…
Ngoài những thông tin nội bộ hàng tháng thì khoảng vài tháng cha cố phát hành một tập thông tin gọi là „Bản Tin Sống Đạo“ tổng hợp những bài do chính ngài viết cùng những tin tức liên quan đến giáo hội hoàn vũ, giáo hội VN hoặc những vấn đề thời đại v.v…
Các lá thư mục vụ và Bản Tin Sống Đạo đều do chính cha cố soạn thảo và tự thực hiện từ A đến Z. Thời gian đó chưa có máy Computer và các máy móc hiện đại như bây giờ, chỉ có máy đánh chữ bằng điện và máy Photocopy nên việc thực hiện các văn bản thông tin với số lượng lớn khá vất vả. Nhưng cha cố đã kiên nhẫn, âm thầm làm việc rất tận tụy và hăng say.
Ngoài những thông tin chung cho mọi giới, cha cố còn quan tâm nhiều đến giới trẻ. Để cho giới trẻ có những món ăn tinh thần cha cố đã khuyến khích một số bạn trẻ có chí hướng và tinh thần phục vụ cùng nhau đóng góp công sức cùng khả năng từng lãnh vực thực hiện tờ báo có tên là „Liên Lạc“.
Vì là tờ báo dành cho giới trẻ nên cha cố Philipphê chỉ đóng vai trò cố vấn và viết bài hướng dẫn về tín lý còn những nội dung khác và kỹ thuật thực hiện hoàn toàn do nhóm thiện chí đảm trách. Thời gian đó công việc thực hiện một tờ báo dù chỉ là nhỏ bé đơn sơ nhưng cũng đầy thử thách cam go, khó khăn về mọi mặt. Nhưng nhờ có ý chí và lòng nhiệt thành nhóm trẻ thiện chí đã thực hiện được 18 số trong vòng 7 năm.
Mặc dù chưa có một ban đại diện chung nhưng các cộng đoàn cũng gắn bó với nhau chặt chẽ trong hành trình sống đạo và các sinh hoạt đạo đời, nhất là những công tác trong các dịp lễ quan trọng.
Bước sang thiên niên kỷ thứ ba dù tuổi đời của cha cố Philipphê chưa cao nhưng tình trạng sức khỏe của ngài bắt đầu giảm sút vì mang bệnh trong người. Tuy thế, ngài vẫn cố gắng hoàn thành trách nhiệm theo những gì ngài đã hoạch định. Chẳng hạn như các thánh lễ tại các cộng đoàn, lễ cưới, các buổi tĩnh tâm v.v…
Nhưng rồi Thiên Chúa nguồn sự sống đã gọi cha cố Philipphê về với Ngài ngày 20 tháng sáu năm 2001. Cha cố Philipphê ra đi chỉ với 56 tuổi đời, 28 tuổi linh mục và 20 tuổi mục vụ linh hướng. Sự ra đi của cha cố đã khiến rất nhiều người bàng hoàng sửng sốt và ngậm ngùi thương tiếc. Sự ra đi của ngài cũng đã để lại một khoảng trống mục vụ tuy không dài lắm.
Sau vài tháng, tòa tổng giám mục không nỡ để đoàn chiên bơ vơ không người chăn dắt nên đã nhờ một linh mục Việt Nam đang du học tại Mainz tạm đảm trách công việc mục vụ trong thời gian tìm người kế nhiệm. Đó là linh mục Antôn Hà Văn Minh thuộc giáo phận Phú Cường. Cha Antôn Hà Văn Minh đã vui vẻ nhận lời và rất hăng say, nhiệt tình trong công việc. Cha Hà Văn Minh đã sốt sắng đến các cộng đoàn giúp đỡ giáo dân những việc thiêng liêng cần thiết như các thánh lễ cộng đoàn, các Bí Tích và nhiều nhu cầu thiêng liêng khác.
Một năm sau ngày cha cố Philipphê qua đời tòa tổng giám mục đã chính thức bổ nhiệm linh mục Đaminh Nguyễn Ngọc Long đảm nhận chức vụ linh hướng kế nhiệm cha cố Philipphê. Cha Đaminh Nguyễn Ngọc Long là linh mục được đào tạo tại tổng giáo phận Köln và đang đảm nhiệm chức vụ phó xứ tại Wipperfürth. Cha Đaminh Nguyễn Ngọc Long bắt đầu sứ vụ linh hướng từ ngày 01.07.2002.
Trước khi chính thức bắt đầu công việc, cha Đaminh đã mời tất cả các ban đại diện cộng đoàn và hội đoàn, ca đoàn tham dự buổi họp đầu tiên vào ngày 23-06-2002 tại Neuss để bàn thảo chương trình hoạt động trong tương lai. Buổi họp này đã có mặt đầy đủ các ban đại diện của 8 cộng đoàn thuộc tổng giáo phận Köln (kể cả cộng đoàn Bonn mới được thành lập trước đó), hội Các Bà Mẹ CG và ca đoàn.
Chính từ buổi họp này danh xưng GIÁO ĐOÀN đã được chính thức ra đời, và thánh hiệu bổn mạng được chọn là Thánh Giuse Hiển. Từ đây danh xưng chính thức của giáo đoàn là: „GIÁO ĐOÀN THÁNH GIUSE HIỂN- TỔNG GIÁO PHẬN KÖLN“.
Một ban đại diện giáo đoàn cũng chính thức được thành lập với nhiệm kỳ 4 năm. Những năm đầu mới thành lập giáo đoàn chưa có nhiều sinh hoạt, ban đại diện khi đó chưa cần nhiều nhân lực nên chỉ gồm một trưởng ban và hai phụ tá. Sau này vì nhu cầu đòi hỏi ban đại diện giáo đoàn đã được mở rộng gồm ban chấp hành và những ban chuyên môn cần thiết. Để các chương trình sinh hoạt được chuẩn bị chu đáo mỗi năm ban chấp hành giáo đoàn cùng với cha linh hướng tổ chức hai kỳ họp tất cả các ban đại diện của các cộng đoàn để bàn thảo và phân chia công tác cho từng sinh hoạt.
Ngoài hai kỳ họp thường niên, mỗi năm dịp Tết Nguyên Đán các ban đại diện cộng đoàn cùng nhau qui tụ về nhà cha linh hướng để chúc tuổi ngài và cùng nhau đón mừng xuân mới trong bầu khí thân mật. Thường trong dịp này đều có thánh lễ tất niên hoặc tân niên trong tâm tình tạ ơn.
Thời gian đó bên giáo phận Aachen có cha cố Giuse Nguyễn Văn Tịnh trách nhiệm linh hướng cho 4 cộng đoàn và có thánh hiệu bổn mạng chung là Đức Mẹ Lavang.
Năm 2005 cha Giuse Nguyễn Văn Tịnh nghỉ hưu, bên giáo phận Aachen không có người kế nhiệm, tòa giám mục Aachen đã nhờ cha Đaminh chăm sóc mục vụ luôn cho giáo dân thuộc giáo phận Aachen. Như vậy, từ năm 2005 giáo đoàn được mở rộng, cha Đaminh Nguyễn Ngọc Long trách nhiệm linh hướng cho tất cả 12 cộng đoàn thuộc hai giáo phận Köln và Aachen. Cũng kể từ đây giáo đoàn thống nhất đổi tên thánh hiệu chung là : GIÁO ĐOÀN ĐỨC MẸ LAVANG.
Khi mới nhận trách nhiệm linh hướng cha Đaminh đã hăng hái bắt tay vào việc. Trước hết các thánh lễ cộng đoàn được sắp xếp chi tiết, cụ thể hơn. Các thánh lễ cộng đoàn có phần dày đặc hơn tùy theo nhu cầu và điều kiện của mỗi cộng đoàn. Ngoài thánh lễ cộng đoàn hoặc chung cho giáo đoàn còn có những thánh lễ khác dành cho thiếu nhi, giới trẻ, các bậc cao niên v.v… Đặc biệt các thánh lễ lớn chung như Giáng Sinh, Phục Sinh sau này được tăng thêm tại nhiều địa điểm khác. Chẳng hạn ngày 24 tháng 12 tại Krefeld, ngày 25 tháng 12 tại Düsseldorf hoặc đại lễ Phục Sinh có các nghi thức từ thứ sáu tuần thánh đến ngày đại lễ tại nhiều cộng đoàn.
Từ cuối năm 2002 mỗi tháng đều có thư mục vụ chung cho toàn thể giáo đoàn có tên là „Sống Đức Tin“ được gửi tới cộng đoàn và phân phối cho từng người trong cộng đoàn. Song song đó một trang Web của giáo đoàn cũng được thực hiện với cùng tên là trang „Sống Đức Tin“ với những thông tin mục vụ và nhiều hạng mục khác. Sau nhiều cải tiến, phát triển trang Web hiện nay đã có bộ mặt trang nhã hơn và phong phú về thông tin.
Tiếp nối truyền thống đạo đức từ thời cha cố Philipphê, dưới thời cha Đaminh các sinh hoạt có phần phát triển và nở rộ hơn. Phần vì sự năng động và nhiệt thành của cha Đaminh, phần nhờ sự hưởng ứng của tất cả mọi thành phần trong giáo đoàn đã hăng say cộng tác giúp cho các sinh hoạt đạo đời có sinh khí và vui tươi.
Đặc biệt bắt đầu từ năm 2004 cha Đaminh đã tổ chức một trại hè cho thiếu nhi tại Wegberg. Từ đó hầu như mỗi năm đều có một trại hè thiếu nhi tại nhiều địa điểm khác nhau giúp cho các em thiếu nhi có cơ hội làm quen nhau, ăn chung, ngủ chung, chơi chung trong bầu khí vui tươi thoải mái. Nhờ có các phụ huynh và những người thiện nguyện giúp đỡ các trại hè này đã đạt được kết quả rất khả quan.
Từ khi giáo đoàn chính thức ra đời các dịp đại lễ chung cả giáo đoàn, phần thánh ca thường được chia cho các ca đoàn địa phương đảm trách. Nhưng ít lâu sau để cho bầu khí trong các thánh lễ chung có phần khởi sắc hơn, tất cả các ca đoàn được mời gọi cùng góp tiếng hát phục vụ chung. Và dần dần đến tháng 11 năm 2010 danh xưng Ca Đoàn Tổng Hợp chính thức ra đời.
Các thánh lễ chung của giáo đoàn sau này có một bầu khí sinh động hơn nữa nhờ có sự góp mặt của những tiếng hát trẻ đầy sinh khí. Đó là ca đoàn giới trẻ có tên là Ánh Sáng Hy Vọng đã được cha Đaminh thành lập từ năm 2008 qui tụ được rất nhiều bạn trẻ có nhiệt tâm và hứng thú.
Từ đó đến nay cả hai ca đoàn phục vụ trong các thánh lễ chung của giáo đoàn rất tích cực và kỹ thuật, tiếng hát ngày càng tỏ ra chuyên nghiệp hơn khiến cho các thánh lễ có bầu khí thiêng liêng, phấn khởi. Và, cả hai ca đoàn không chỉ phục vụ trong giáo đoàn mà cả trong các dịp Đại Hội Công Giáo của liên đoàn.
Trong hành trình sống đạo, những thành phần phục vụ cho các thánh lễ từ địa phương cho đến giáo đoàn không thể không nói đến các em giúp lễ. Các em giúp lễ là những nhân tố giúp cho thánh lễ thêm sốt sắng và khởi sắc. Các em giúp lễ trên bàn thờ cạnh các linh mục chủ tế hoặc đồng tế giúp cho bầu khí thánh lễ không bị tẻ nhạt. Ngay từ thời cha cố Philipphê các em giúp lễ luôn được các cha linh hướng mời gọi, khích lệ, quí trọng và yêu mến.
Từ suốt 45 năm nay trong các thánh lễ chung của giáo đoàn hoặc ít hoặc nhiều chưa bao giờ thiếu vắng các em giúp lễ. Rất nhiều em giúp lễ từ thời cha cố Philipphê nay đã trở thành những người cha người mẹ và có cả con cái đang tiếp nối công việc phục vụ của cha mẹ ngày xưa. Cha linh hướng Giuse Hồ Anh Tuấn hiện nay càng tỏ ra quan tâm, ưu ái hơn nữa đối với các em giúp lễ.
Trong 21 năm linh hướng ngoài những Bí Tích như Rửa Tội, Giải Tội, Hôn Phối cha Đaminh cũng tổ chức nhiều lần cho các em lãnh nhận bí tích Thêm Sức cách rất trọng thể, có lần lên tới 70 em.
Một điều quan trọng và đáng nói nữa trong hành trình sống đạo đó là lòng sùng kính Chúa Giêsu, Đức Mẹ Maria hay các thánh của người tín hữu Việt Nam. Chính vì lòng sùng kính thâm sâu này thúc đẩy các cha linh hướng tổ chức các cuộc hành hương. Từ thời cha cố Philipphê hằng năm đều tổ chức một ngày hành hương kính Đức Mẹ ở Kevelaer thường vào tháng 5, tháng hoa.
Thời cha linh hướng Đaminh truyền thống này vẫn được duy trì. Tuy nhiên, ít năm sau này có sự thay đổi về địa điểm. Tháng năm thay vì hành hương Kevelaer cha Đaminh đã đổi sang hành hương kính Đức Mẹ Banneux bên Bỉ. Và ngày hành hương Kevelaer được tổ chức vào ngày Tết Dương Lịch 01 tháng 01 hằng năm, ngày lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa. Hiện giờ cha linh hướng Giuse vẫn duy trì truyền thống này.
Truyền thống hành hương Banneux luôn vào ngày Chúa nhật thứ hai của tháng năm, ngày hiền mẫu. Truyền thống này ban đầu chỉ dành cho giáo đoàn Đức Mẹ Lavang thôi. Nhưng rồi „tiếng lành đồn xa“, dần dà ngày hành hương này đã biến thành truyền thống của Âu Châu cho đến ngày nay. Mỗi năm có từ 5 đến 7 ngàn con cái Mẹ khắp Âu Châu qui tụ về Banneux để kính viếng Mẹ. Thật là một truyền thống tốt đẹp trong hành trình sống đạo.
Đó là những cuộc hành hương ở gần nhà chỉ mất một ngày, còn có những cuộc hành hương xa xôi phải mất nhiều ngày như Lộ Đức, Fatima, Mễ Du hoặc sang tận Đất Thánh v.v… Thời cha cố Philipphê các cuộc hành hương xa chưa được tổ chức nhiều vì điều kiện chưa có nhiều thuận lợi cho việc tổ chức cũng như cho người tham dự. Tuy nhiên biến cố khó có thể quên đó là năm 1988 cha cố đã dẫn phái đoàn sang tận thủ đô giáo hội để hành hương và tham dự lễ tuyên phong 117 chân phước TĐVN lên bậc hiển thánh.
Thời cha linh hướng Đaminh các chuyến hành hương rất phong phú. Có những năm ngài phải tổ chức 2 chuyến đi cùng một nơi mới đáp ứng được nhu cầu và mỗi chuyến cũng lên tới con số hơn 100 người tham dự. Đặc biệt năm 2022 khi đại dịch Covid mới tạm lắng dịu cha Đaminh đã tiên phong tổ chức chuyến hành hương Fatima để tạ ơn Đức Mẹ. Rồi sau đó lại tổ chức chuyến hành hương sang Đất Thánh để dõi theo những dấu chân của Chúa Giêsu mà chiêm ngắm, cầu nguyện.
Trong suốt 21 năm với vai trò linh hướng cha Đaminh đã tổ chức đến vài chục chuyến hành hương: Lộ Đức, Fatima, Mễ Du, Đất Thánh v.v… Rất nhiều người có „máu“ hành hương nên chuyến trước chưa về đến nhà đã ghi danh chuyến sau ngay.
Cha linh hướng Giuse Hồ Anh Tuấn không những tiếp nối công việc linh hướng mà còn tiếp nối luôn truyền thống đạo đức tốt đẹp của cha Đaminh. Trong lúc tôi đang viết những dòng này thì cha linh hướng Giuse cùng với phái đoàn đang trên đường hành hương sang Lộ Đức và trong phái đoàn lần này có cả cha Đaminh với tư cách một „ông hưu tham dự hành hương“ chứ không phải là vị thuyền trưởng như trước nữa.
Những ai chưa từng tham dự hành hương sẽ không cảm nhận được những ơn ích thiêng liêng và lý thú của các chuyến hành hương. Nhiều người được trải nghiệm qua một chuyến hành hương rồi sau đó như bị mê hoặc không muốn bỏ lỡ một chuyến hành hương nào.
Hành trình sống đạo của người tín hữu chúng ta rất đa dạng, không chỉ là đọc kinh, tham dự thánh lễ hay các bí tích là đủ mà cần có nhiều những sinh hoạt khác nữa. Một sinh hoạt vừa có tính cách đạo đức vừa có tính cách văn hóa dân tộc, đó là ngày Tết Nguyên Đán. Dù cách này hay cách khác hằng năm giáo đoàn thường tổ chức một ngày hội như một „ngày hội dân tộc“. Là dịp để mọi người cùng hiệp ý dâng lời chúc tụng, tạ ơn Thiên Chúa và cũng là dịp để mọi người tâm tình, thư giãn.
Ngoài dịp Tết Nguyên Đán với mục đích bảo tồn văn hóa dân tộc, để mọi người gặp gỡ nhau ngày đầu Năm mới, Cha Đaminh cũng tạo ra một truyền thống khác nữa chủ yếu cho các thành viên và gia đình các ca đoàn một ngày gặp gỡ, vui chơi, nghỉ ngơi, dưỡng sức. Đó là ngày picnic của ca đoàn vào ngày 01 tháng năm hằng năm. Truyền thống này hiện vẫn được cha linh hướng Giuse tiếp nối.
Một sinh hoạt khác nữa là ngày „Khánh Nhật Truyền Giáo“. Truyền giáo được coi là linh đạo của dòng Ngôi Lời. Nhưng ngày Khánh Nhật Truyền Giáo không chỉ dành riêng cho nhà dòng Ngôi Lời mà cả Giáo Hội Hoàn Vũ long lọng mừng ngày này. Và, tuy không thuộc truyền thống của giáo đoàn nhưng từ rất nhiều năm giáo đoàn vẫn đồng hành cùng nhà dòng Ngôi Lời trong ngày trọng đại đầy ý nghĩa này.
Thế rồi, sau đúng 21 năm và 3 tháng mang trọng trách dẫn dắt giáo đoàn trong hành trình sống đạo, ngày 30 tháng 9 năm 2023 cha Đaminh Nguyễn Ngọc Long đã chính thức được „về vườn“ đóng vai trò một „ông hưu“. Đây là biệt danh do chính ngài tự đặt và rất thích thú với biệt danh này. Tuy là một ông hưu nhưng ngài vẫn đồng hành, vẫn tiếp tục cuộc hành trình sống đạo với giáo đoàn.
Để không xẩy ra một khoảng trống mục vụ cho đoàn chiên Việt Nam, tòa tổng giám mục Köln đã cử cha Giuse Hồ Anh Tuấn thuộc dòng Ngôi Lời tiếp tục gánh vác sự nghiệp linh hướng của cha Đaminh. Cha Giuse Tuấn đã bắt đầu sứ vụ từ ngày 01 tháng 10 năm 2023. Cha linh hướng Giuse còn trẻ và năng động không chỉ tiếp nối đường hướng hoạt động của cha Đaminh mà còn khai triển thêm ra nhiều hoạt động ý nghĩa và sinh động hơn nữa, đặc biệt cho giới trẻ.
Từ ngày cha Giuse trách nhiệm linh hướng ngoài những hội đoàn có từ trước bây giờ có thêm : Hội Bác Ái Vinh Sơn, hội người con thánh cả Antôn, Nhóm thanh thiếu niên ESY, nhóm Don Bosco. Cha Giuse là một linh mục trẻ, năng nổ, nhiệt thành, còn nhiều năng lực do đó những sinh hoạt đạo đời hiện nay có phần đa dạng và khởi sắc hơn nữa.
Dân Do Thái ngày xưa trải qua hành trình 40 năm từ Ai Cập trở về tiến vào miền đất hứa. 40 năm lầm lũi trong sa mạc với biết bao cam go thử thách có khi đã tuyệt vọng không còn tin vào Thiên Chúa nữa và muốn quay trở lại Ai Cập. Nếu so sánh với dân Do Thái ngày xưa thì hành trình sống đạo 45 năm của giáo đoàn chúng ta chắc chắn chẳng thấm vào đâu cả. Tuy nhiên, mỗi thời đại, mỗi cuộc hành trình đều có những điều kiện, những hoàn cảnh, những nếp sống riêng biệt do đó cũng có những thuận lợi những thách đố riêng.
Suốt 45 năm hành trình sống đạo nơi tha hương cũng khác hẳn nếp sống đạo tại quê nhà. Hành trình sống đạo 45 năm dài cũng có đủ mọi đặc tính „Hỉ, Nộ, Ái, Ố“ như bản tính của một con người sống trong xã hội. Cuộc sống của con người có lúc vui, lúc buồn, lúc ham sống, lúc sợ chết v.v… Hành trình sống đạo cũng có nhiều điều vui, nhiều lúc chán nản, nhiều khi mất hy vọng. Nhưng những điều ấy sẽ giúp chúng ta thêm can đảm và trưởng thành hơn.
Hành trình sống đạo 45 năm chưa phải là dài lắm nhưng cũng đủ dài để mỗi người chúng ta nhìn lại chặng đường đã qua để vui mừng, để tự hào, để rút tỉa những khuyết điểm, thiếu sót, để tu bổ hành trang cho chặng đường kế tiếp. Thế hệ có công xây dựng nền móng đã và đang dần qua đi. Thế hệ đã trải nghiệm, đã học hỏi thì nay cần mạnh dạn tiếp tục công việc bảo quản và phát huy sao cho hành trình sống đạo ngày càng tươi vui, khởi sắc hơn, đạt kết quả tốt hơn.
Nhìn xa hơn nữa chúng ta tự hỏi: còn thế hệ sắp tới nghĩa là thế hệ 9X, 20X sẽ như thế nào ? Câu trả lời thật không dễ. Có lẽ chính các thế hệ này sẽ trả lời câu hỏi này.
Năm nay giáo đoàn mừng cuộc hành trình sống đạo 45 năm tại quê người. Mỗi người chúng ta nghĩ gì, làm gì ? Có lẽ điều thiết thực nhất là mỗi người chúng ta đóng góp những lời nguyện sốt sắng để tạ ơn Chúa đã ban nhiều Manna thiêng liêng cho mỗi người, mỗi gia đình và cho giáo đoàn chúng ta trong suốt hành trinh 45 năm qua và chắc chắn còn tiếp tục dài dài nữa.
Xin Chúa cùng đồng hành và chúc lành cho cuộc hành trình sống đạo của chúng con không chỉ hôm nay mà mãi mãi. Amen.
Đỗ Văn Thục
(Mừng lễ bổn mạng giáo đoàn 2026)












