<%@LANGUAGE="JAVASCRIPT" CODEPAGE="CP_ACP"%> Untitled Document

Cho đến hôm nay những mẩu chuyện trong cuốn Hành Trình Biển Đông mà tôi vừa được đọc đã làm cho ước mơ nhỏ bé của tôi sống lại, và tôi quyết định thực hiện ước mơ này. Khi có được cuốn Hành Trình Biển Đông trong tay tôi đã tranh thủ những phút rảnh rỗi đọc say sưa kể cả những giờ nghỉ trưa trong sở, và đã có lúc tôi thấy lồng ngực mình như bị một vật gì đè cứng làm cho ngộp thở, và hai khoé mắt cảm thấy cay cay, mờ nhạt.

Câu chuyện tôi sắp kể chẳng xứng đáng so với những câu chuyện thê lương đầy nước mắt tôi vừa đọc. Nhưng tôi nghĩ rằng cuộc sống ngoài những sự cay đắng cũng cần phải có chút hương vị ngọt ngào thì cuộc đời mới thi vị. Và nếu câu chuyện của tôi có cơ hội đến tay người đọc thì cũng chỉ là một bông hồng nhỏ nhoi tô điểm thêm vào những câu chuyện tang thương khác cho vơi bớt phần nào thê lương buồn thảm. Hơn nữa, mục đích tôi ghi lại những dòng này như một lời tạ ơn Thiên Chúa đã quan phòng và dẫn đưa tôi đến bến bờ bình an. Vì sự may mắn cũng không ngoài hồng ân cao cả mà Thiên Chúa ban tặng cho con người.

* * * * *

Sau biến cố tháng tư 75, hàng triệu người đã lần lượt bỏ nước ra đi. Tất cả những người đau lòng từ bỏ quê hương ra đi đều có chung một lý do, có cùng một mục đích chỉ có phương tiện, cách thức và thời gian là khác nhau. Người ta đã bất chấp mọi nguy hiểm, kể cả đánh đổi mạng sống mình để đi tìm một báu vật. Một báu vật không hề có trong danh sách các kho tàng quí giá trên thế giới. Một báu vật người ta không thể sờ mó được mà chỉ có thể cảm nhận được. Báu vật đó có cái tên chỉ vỏn vẹn hai chữ : TỰ DO.

Ngay từ năm 76, 77 tôi đã có ý định đi vượt biên khi có mấy người quen từ Sàigòn xuống nhờ anh em tôi kiếm dùm họ một chiếc ghe tại Rạch Giá. Họ hứa nếu mọi sự tốt đẹp họ sẽ cho anh em tôi đi theo miễn phí. Vì nếu phải trả tiền thì anh em tôi đành chịu thua vì gia đình chúng tôi chẳng có khả năng. Tiếc rằng việc đó không thành và chúng tôi tiếp tục cuộc sống bình thường như mọi người. Từ cuối năm 1979 phong trào vượt biên ở vùng tôi bắt đầu phát triển mạnh. Rất nhiều chuyến được tổ chức bốc người và khởi hành ngay tại sông. Dĩ nhiên, những trường hợp này người ta chỉ biết được khi sự việc đã rồi, nghĩa là những người trong cuộc đã thoát hoặc đang « đền Tội » trong một trại giam nào đó v.v…

Tuy phong trào đang lên cao nhưng bề ngoài không có dấu hiệu nào để người ta có thể nhận ra. Vì thời điểm người ta phải tiết kiệm mọi mặt : ăn uống, may mặc, chơi bời v.v… đặc biệt lời nói càng cần phải hà tiện tối đa nếu không muốn đi nghỉ mát ở « nhà đá ». Về lãnh vực « du lịch kín đáo » thì càng phải hà tiện lời nói hơn nữa, nếu không sẽ « nằm hộp » cả lũ. Gia đình em trai tôi cũng đã âm thầm thử thời vận một phen, nhưng tiếc rằng không thành công, cả nhà tôi không ai hay biết. Tới khi vợ con hắn sau vài ngày nghỉ mát trở về mọi người trong nhà mới biết, riêng em trai tôi còn nghỉ mát trong vùng U Minh một năm trời nữa. Khi tôi ra đi nó vẫn chưa được về. Do đó kể từ khi nó thất bại tới lúc tôi thành công hai anh em không có dịp gặp lại nhau.

Mặc dù chẳng ai khoe, chẳng ai mách nhưng cứ nay thấy vắng mặt người này, mai vắng bóng người kia chúng tôi tự hiểu họ đã đi « du lịch kín đáo ». Có người thất bại, có người thành công. Riêng tôi vẫn chẳng dám nghĩ tới thử thời vận. Lý do đơn giản là “không tiền đố mày vượt biên » (trừ trường hợp ngoại lệ).

Nhưng rồi thế sự xoay vần, hoàn cảnh bắt buộc tôi phải quyết định ra đi và để lại vợ với hai đứa con trai còn nhỏ. Tuy lúc đó tôi đã là một thanh niên 25 tuổi, nhưng thú thực các vấn đề giao tế, xoay sở để lo liệu cho chuyến đi tôi không được lanh lợi lắm nếu không muốn nói là khờ khạo. Mọi việc đều được ba má vợ tôi và người anh cột chèo - mà tôi sẽ cùng đi theo - sắp xếp. Nói chung, mọi việc « từ khởi sự cho đến hoàn thành » đều do ba má vợ và anh chị tôi tận tình lo liệu, kể cả lệ phí.

Quyết định đến với tôi thật mau trong lúc tôi đang lẩn trốn tại nhà cô tôi, để rồi vào một đêm đầu tháng 12 năm 1980 tôi liều lĩnh trở về từ gĩa bố mẹ tôi. Lúc đó cả nhà tôi còn đang ngon giấc. Khi nghe tôi trình bày và nói những lời từ giã, bố tôi im lặng nhưng tôi biết ông rất buồn, mẹ tôi thì không cầm được nước mắt nhưng đành cầu chúc tôi đi bằng an. Đứa em gái tôi vừa sanh được mấy ngày cũng đang ở đó, tôi chỉ vào nhìn mặt đứa cháu còn đỏ hỏn lần đầu cũng là lần cuối rồi âm thầm từ giã mọi người. Cuộc từ giã diễn ra thật đột ngột và ngắn ngủi, vì tôi phải tranh thủ ra đường lộ trước khi trời sáng để đón xe đò lên Sàigòn mà không bị ai nhìn thấy. Ngoài bố mẹ tôi ra không một ai biết tôi đi đâu, kể cả hai đứa con tôi cũng không biết ba chúng đang ở đâu và tôi cũng chẳng có cơ hội từ giã chúng.

Từ dưới quê lên Sàigòn các trạm kiểm soát lúc đó đã bớt đi nhiều nhưng chuyến đi của tôi cũng là một sự mạo hiểm vì trong người tôi hoàn toàn không có một mảnh giấy tùy thân nào. Anh tôi đã phải mượn giấy tờ của một người quen cho tôi đi đường, cũng may tôi không gặp trở ngại nào. Lên tới Sàigòn ba vợ tôi cầm giấy tờ về trả lại cho họ. Từ đó tôi như một kẻ sống ngoài vòng pháp luật, một kẻ bất hợp pháp mặc dù tôi chẳng phạm tội gì cả. Tôi và người anh cột chèo với hai đứa con trai của anh tá túc tại nhà bà con của anh để chờ ngày lên đường.

Chúng tôi dự định đi một chuyến được tổ chức tại Sàigòn, trong gia đình chỉ có anh tôi với hai đứa con và tôi. Tuần lễ nằm chờ chực tại Sàigòn rất căng thẳng, những người tổ chức cứ nay thông báo ngày lên đường, mai lại thông báo hoãn lại. Vài lần như vậy anh tôi cảm thấy có điều gì không ổn, sợ người ta gạt vì chúng tôi đã đóng tiền cọc. Chúng tôi bàn nhau và anh quyết định bỏ chuyến này.

Sau đó anh liên lạc được với một người bác bên vợ tại Phước Lộc, Bà Rịa, nhờ giúp đỡ. Bác chúng tôi cũng đang tìm đường đi, và đã tìm được một mối do những người quen biết tổ chức, do đó bác đề nghị chúng tôi cùng góp tiền cho họ đóng ghe để cùng đi. Chúng tôi rất mừng, từ giã Sàigòn lên tạm trú tại nhà một bà con khác của anh tôi tại Hố Nai để chờ.



Tạ từ quê hương

Lời đầu

Ngay từ những năm đầu cuộc đời tị nạn tôi đã có ước mơ viết lại chuyến vượt biên của tôi, không phải với mục đích để phổ biến, nhưng là để giữ làm kỷ niệm và để cho con cái sau này có dịp đọc và hiểu được tại sao ba mẹ chúng phải bỏ nước ra đi, và sự ra đi cực khổ, nguy hiểm như thế nào. Thế nhưng, thời gian đầu đang phải ráo riết hội nhập vào cuộc sống mới, một cuộc sống hoàn toàn xa lạ từ đất sống mới, lối sống mới, thức ăn mới, văn hoá mới, cách ăn ở, cách học hành … nói chung cái gì cũng mới lạ. Hơn nữa tinh thần tôi lúc đó chưa được ổn định vì thằng con trai lớn mới 3 tuổi đầu còn lọt lại. Do đó, tôi chưa có cơ hội thực hiện ước mơ đó.

Sau mấy năm trời lo thủ tục, con trai tôi đã được sang đoàn tụ, nhưng rồi cuộc sống vẫn „quản lý“ hầu hết thời gian của con người, do đó tôi cũng đã quên dần ước mơ nhỏ bé đó.